Hội chứng ỐNG CỔ TAY

HỘI CHỨNG ỐNG CỔ TAY


Thế nào là hội chứng ống cổ tay?

Ống cổ tay:

- Là khoảng không gian giữa các xương của cổ tay ở dưới và hai bên. Có một tấm gân rộng gọi là cân ngang của cổ tay phủ lên trên như một cái mái.
- Khoảng không gian trong ống cổ tay khá chật hẹp, khi nó chít hẹp lại thì dây thần kinh giữa bị chèn ép trong đó. Điều này gây hội chứng ống cổ tay.

 Dây thần kinh giữa:
 

-Dây thần kinh giữa được tạo bởi 2 rễ:
   + Rễ ngoài tách ra từ bó ngoài của đám rối thần kinh cánh tay (bắt nguồn từ rễ cổ C5 đến C7).
   + Rễ trong tách ra từ bó trong của đám rối thần kinh cánh tay (Bắt nguồn từ rễ cổ 8 đến rễ ngực 1).
 -Trước khi đi qua ống cổ tay thần kinh giữa tách ra nhánh cảm giác da bàn tay, chạy dưới da và chi phối cảm giác vùng ô mô cái.
 -Ở bàn tay thần kinh giữa chia ra thành các nhánh vận động và cảm giác.


Hội chứng ống cổ tay:

- Là tình trạng chèn ép dây thần kinh giữa khi nó đi qua ống cổ tay.
- Thần kinh giữa bị dây chằng ngang cổ tay chèn ép khi nó đi qua dưới sợi dây chằng này, làm đau, tê và yếu bàn tay. Thần kinh giữa chịu cảm giác ngón cái, ngón trỏ, ngón giữa và một vài cơ bàn tay.

Hội chứng này mang đến hậu quả như thế nào?

Khi chèn ép của hội chứng ống cổ tay kéo dài sẽ làm tổn thương thần kinh không hồi phục.Có nghĩa là dù có giải ép thì các cử động cầm, nắm cũng không phục hồi trở lại.

Nguyên nhân gây ra hội chứng ống cổ tay:

- Thần kinh giữa đi chung với những gân cơ gấp của các ngón tay trong ống cổ tay.
- Chính vì nằm trong một cấu trúc không co giãn được nên khi có sự tăng thể tích của các gân gấp bị viêm; các tư thế gấp duỗi cổ tay quá mức và thướng xuyên thì sẽ tạo một lực chèn ép lên các mạch máu nuôi nhỏ đi sát bên dây thần kinh. Điều này gây ra tình trạng thiểu dưỡng, sẽ xuất hiện triệu chứng tê bàn tay.
- Với hội chứng ống cổ tay sau chấn thương, nguyên nhân có thể là sự hẹp lòng ống cổ tay do gãy lệch xương, như gãy đầu dưới xương quay; trật khớp như trật xương bán nguyệt ra trước…
- Thể tích và chu vi ống cổ tay nhỏ lại khiến thần kinh giữa bị chèn ép.
- Lúc này không chỉ cắt mạc giữ gân gấp mà còn phải điều chỉnh lại khối can xương lệch hay bị trật thì mới hết chèn ép.

Các yếu tố nguy cơ của bệnh là gì?

- Ống tay nhỏ bẩm sinh
- Chấn thương
- Gãy xương
- Viêm bao gân gấp
- Viêm khớp dạng thấp, bện gút (gout)
- Tiểu đường, nhược giáp…
- Mang thai.

Các triệu chứng của hội chứng ống cổ tay là gì?

Triệu chứng cơ năng:

- Bệnh nhân thường đau, ngứa ran như kiến bò, tê kim châm ở ba ngón rưỡi do dây thần kinh giữa bị chi phối. Nhưng cũng có lúc tê rân cả bàn tay. Chứng tê này thường xuất hiện về đêm, có thể đánh thức bệnh nhân dậy và giảm đi khi nâng cao tay hoặc vẫy cổ tay. Đau và tê có thể lan lên cẳng tay, khuỷu hoặc vai.
- Cơn tê ngày càng kéo dài. Có những bệnh nhân bị tê rần suốt cả ngày. Sau một thời gian, người bệnh có thể thấy việc tê rần đột nhiên ngớt nhưng các chức năng cầm nắm bị giảm sút. hoặc bị run tay, viết khó, dễ làm rớt đồ vật. Có thể gặp ở một hoặc cả hai tay.

Triệu chứng thực thể:

- Dấu hiệu lâm sàng cổ điển của hội chứng ống cổ tay là: dấu hiệu Tinel; nghiệm pháp Phalen.
- Dấu hiệu Tinel dương tính: gõ trên ống cổ tay ở tư thế duỗi cổ tay tối đa gây cảm giác đau hay tê giật lên các ngón tay.

- Nghiệm pháp Phalen dương tính: khi gấp cổ tay tối đa (đến 90 độ) trong thời gian ít nhất 1 phút gây cảm giác tê tới các đầu ngón tay.

- Những triệu chứng như teo cơ mô cái; cử động đối ngón yếu; cầm nắm yếu là những dấu hiệu muộn dã có tổn thương thần kinh.

Khi nào cần đến bác sĩ?

- Ngay khi có những dấu hiệu đơn thuần về cơn đau.
- Hoặc có dấu hiệu bất thường trong hoạt động hằng ngày.
cần đến bác sĩ hoặc các cơ sở y tế để được chẩn đoán, chữa trị kịp thời.

Chẩn đoán hội chứng ống cổ tay dựa vào tiêu chuẩn nào?

- Đo điện cơ: là phương pháp duy nhất cụ thể hóa được những biến đổi bệnh lý trong hội chứng ống cổ tay.
- Khi dây thần kinh giữa bị chèn ép rất nặng ở ống cổ tay, có thể có hiện tượng mất phân bố thần kinh ở khối cơ o mô cái (khảo sát bằng điện cực kim), và khi kích thích điện ở cổ tay, thì điện thế ghi bằng các điện cực đtặ trên khối cơ ô mô cái cũng sẽ rất nhỏ, thậm chí có thể không có.

Về điều trị hội chứng ống cổ tay

Điều trị kết hợp nhiều biện pháp:

- Nẹp cổ tay để giữ bàn tay ở vị trí trung gian. Giảm các hoạt động gập và xoay cổ tay liên tiếp do đó giảm sưng phù của các đầu gân cơ.
- Điều trị bằng sống siêu âm.
- Vật lý trị liệu.
- Thay đổi môi trường làm việc.

Dùng thuốc:

- Thuốc uống gồm thuốc giảm đau kháng viêm không steroid.
- Tiêm Steroid vào ống cổ tay dưới siêu âm, bệnh có thể khỏi từ vài tháng đến nhiều năm.
- Phẫu thuật nhằm giải áp lực trong ống cổ tay khi các phương pháp điều trị thông thường không đạt kết quả.
- Kết hợp điều trị các bệnh tổng quát nếu như có tê thấp, nhược giáp, mập phì, tiểu đường…

Những phương pháp phòng ngừa hội chứng ống cổ tay

Để phòng ngừa hội chứng ống cổ tay cần lưu ý những hoạt động sau:

- Cho các cơ bắp nghỉ ngơi thư giản, năng xoa bóp để giúp phục hồi khả năng tuần hoàn, tăng tưới mauscho các nhóm cơ vùng vai, cánh – cẳng- cổ tay.
- Thường xuyên tập thể dục, nhất là với những ngón tay có thể cong nhẹ hoặc duỗi ra mà không cần vặn cổ tay.
- Dùng bàn phím tốt nhất nên đặt phẳng hoặc thấp hơn khuỷu tay.
- Bàn tay gấp hoặc duỗi tối thiểu khi lao động
- Sử dụng lực có hiệu quả bằng việc sử dụng găng tay vừa, tránh dùng các găng tay quá rộng hoặc quá chật.
- Khi cầm nắm dụng cụ, phải tránh các động tác mạnh vào lòng bàn tay. Có thể dùng đệm lót bảo vệ.
- Các dụng cụ phải vừa và đủ dài, qua mô cơ bên trong lòng bàn tay.
- Phải chọn lọc các công cụ lao động ít gây rung.
- Phải huấn luyện công nhân cách sử dụng đúng đắn công cụ lao động.

Các loại Đai Nẹp hỗ trợ Phòng ngừa & Điều trị Hội chứng ống cổ tay:  Bao tay cao su NS-401, Đai cổ tay NS-314, Nẹp cổ tay EH-309 ..